Tình nghĩa vợ chồng, tình nghĩa đồng đội, tình nghĩa tri kỷ thể hiện sự chung thủy bằng lời thề hay nguyện ước “Sống Chết Có Nhau”. Vợ chồng cùng lên một chiếc hoa nhưng hầu như rất khó cùng lên xe tang. Đồng đội sống gắn bó “huynh đệ chi binh” nhưng chẳng bao giờ mong “chết chùm”. Dẫu tri kỷ, song ai “rũ áo ra đi” cũng đành tiễn đưa và hẹn gặp lại nhau ở đâu đó. “Sống Chết Có Nhau” – Sống trước, Chết sau.

Nhưng với Chúa Jêsus – Chết trước, Sống sau. Lễ Phục Sinh của Chúa Jêsus hàng năm vào tháng 4 hay tháng 3. Đức Chúa Jêsus là Ngôi Hai Đức Chúa Trời thành nhân. Sự sống của Đức Chúa Trời là “đời đời” (eternal life). Biểu tượng “đời đời” là cái vòng tròn không có khởi đầu, cũng chẳng có chấm dứt.

Khi Đức Chúa Trời dựng nên loài người, Ngài “lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh” (Sáng-thế ký 2:7). Loài người có sự sống “đời đời”.

Nhưng sau khi loài người phạm tội, “chết” là án lệnh của Đức Chúa Trời, “bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội” (Rô-ma 5:12).

Trong chương trình cứu rỗi loài người của Đức Chúa Trời qua Cứu Chúa Jêsus, Đức Chúa Jêsus phải giáng sinh, Đức Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời thành nhân. Ngài có thân xác cùng sự sống như chúng ta chỉ khác chúng ta là Ngài hoàn toàn vô tội. Chính thể xác và đời sống của Chúa Jêsus hoàn toàn vô tội, nên Ngài đã dùng chính thân thể Ngài, mạng sống Ngài để nhận tội lỗi của cả nhân loại, chịu sự đoán phạt của Đức Chúa Trời bằng sự “chết” như Lời Kinh Thánh minh định : “Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết” (Rô-ma 5:8).

Sau khi chịu chết trên thập tự giá, trân xác Ngài được trong mộ là hang đá, đến ngày thứ ba, Ngài sống lại. Ngài sống lại với sự sống “đời đời” là sự sống vốn có của Đức Chúa Trời.

Sự cứu rỗi Chúa ban cho loài người đã được quy định như Lời Chúa Jêsus phán : “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời” (Giăng 3:16).

Người tin nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa của mình thì được ban ngay “sự sống đời đời”. Cơ Đốc nhân chân chính đều có “sự sống đời đời”.

Cơ Đốc nhân có “sự sống đời đời”, nhưng muốn sống với “sự sống đời đời” phải áp dụng đúng quy luật “Chết để Sống” – Chết trước, sống sau.

Cơ Đốc nhân có hai sự sống. Sự sống thuộc thể là sự sống của con người phạm tội, sự sống thuộc linh là “sự sống đời đời”.

Mỗi người sau khi tin nhận Chúa Jêsus làm cứu Chúa của mình, phải chịu lễ Báp Têm là nghi thức duy nhất Chúa đòi hỏi theo mệnh lệnh chót của Ngài truyền cho người thuộc về Ngài: “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp têm cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.” (Ma-thi-ơ 28:19-20). Lễ Báp Têm không phải là lễ rửa tội. Người biết ăn năn tội, tin nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa của mình thì lập tức được sạch tội vì “huyết của Đức Chúa Jêsus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta” (I Giăng 1:7). Người tin nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa của mình, lập tức được “Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài” (Giăng 1:12).

Lễ Báp Têm được Hội Thánh quản lý trong quyền năng Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Hội Thánh chỉ làm lễ Báp Têm cho người nào đã tin nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa của mình, là làm phép Báp Têm cho người nào đã được cứu, đã được tái sinh, đã là “con cái Đức Chúa Trời”. Hội Thánh chân chính không làm lễ Báp Têm cho trẻ em chưa tin nhận Chúa dầu em đó là con của Cơ Đốc nhân, cũng không làm lễ Báp Têm cho người chết.

Lễ Báp Têm là sự tuyên xưng của “con cái Đức Chúa Trời” – Chết và Sống với Chúa Jêsus.

Người hành lễ, “nhân danh Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Đức Thánh Linh” nhận chìm “con cái Đức Chúa Trời” vào trong nước, rồi đỡ người lên khỏi nước.

Lễ nghi chỉ là dấu hiệu, nhưng biểu hiệu đức tin, nhận thức, biết ơn, dâng hiến, thờ phượng. “Con cái Đức Chúa Trời” chịu lễ Báp Têm là lấy dấu hiệu bề ngoài để tỏ về sự thay đổi đã xảy ra ở bề trong. “Con cái Đức Chúa Trời” dìm mình trong nước để tỏ ra mình đồng chết và chịu chôn với Chúa Jêsus con người cũ xác thịt tội lỗi của mình. Khi “con cái Đức Chúa Trời” lên khỏi nước tỏ ra đồng sống lại với Chúa Jêsus như Ngài đã ra khỏi mộ đá sự chết cách khải hoàn. “Con cái Đức Chúa Trời” tuyên hứa sẽ sống như Chúa Jêsus với “sự sống đời đời”.

Qua lễ Báp Têm, “Chúng ta đã bị chôn với Ngài bởi phép báp têm trong sự chết Ngài, hầu cho Đấng Christ nhờ vinh hiển của Cha được từ kẻ chết sống lại thể nào, thì chúng ta cũng sống trong đời mới thể ấy” (Rô-ma 6:4).

Lễ Báp Têm là lời tuyên hứa và xác định: “Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi” (Ga-la-ti 2:20).

“Con cái Đức Chúa Trời” sau khi chịu lễ Báp Têm, “Con cái Đức Chúa Trời” hoàn toàn chết với Chúa Jêsus về người cũ, tội lỗi của mình, và sống một đời sống thánh khiết trọn lành như Chúa Jêsus. Lễ Báp Têm chỉ là nghi lễ tuyên xưng đồng chết và đồng sống với Chúa. Lễ Báp Têm khác nào chiếc nhẫn cưới được trao nhận trong ngày lễ hôn phối, một dấu hiệu tuyên hứa liên kết với nhau trong tình nghĩa vợ chồng và chung sống với nhau cho đến mãn đời. Nhưng sau lễ cưới, cuộc sống hôn nhân có khi tăng trầm, song chiếc nhẫn cưới đeo nơi ngón tay nhắc nhau giữ vẹn lời nguyền.

“Con cái Đức Chúa Trời” luôn gắn bó với Cứu Chúa “đời đời”. Kinh Thánh dạy “Con cái Đức Chúa Trời” phải “làm chết các chi thể của anh em ở nơi hạ giới, tức là tà dâm, ô uế, tình dục, ham muốn xấu xa, tham lam, tham lam chẳng khác gì thờ hình tượng” (Cô-lô-se 3:15). Kinh Thánh cũng dạy rõ: “Các việc làm của xác thịt ... ấy là gian dâm, ô uế, luông tuồng, thờ hình tượng, phù phép, thù oán, tranh đấu, ghen ghét, buồn giận, cãi lẫy, bất bình, bè đảng, ganh gổ, say sưa, mê ăn uống, cùng các sự khác giống như vậy” (Ga-la-ti 5:19-21).

“Con cái Đức Chúa Trời” phải “coi mình như chết về tội lỗi và như sống cho Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ” (Rô-ma 6:11). Phải “chết” rồi mới “sống”. “Chết” bao nhiêu thì “sống” mạnh bấy nhiêu. Bởi “chết” và “sống” này, “Con cái Đức Chúa Trời” trở nên “sự sáng của thế gian” (Ma-thi-ơ 4:14), người quanh ta thấy chúng ta “ăn ở một cách xứng đáng với đạo Tin Lành của Đấng Christ” (Phi-líp 1:27) thì “ngợi khen Cha” chúng ta “ở trên trời” (Ma-thi-ơ 4:16).

Thưa quý anh chị con cái Chúa,

Trong những mùa Phục Sinh tới, chúng ta những Cơ Đốc nhân, “Con cái Đức Chúa Trời” hãy nguyện “Chết Sống Có Nhau” với Chúa Jêsus của chúng ta.

Thơ Tin Lành

Mùa Thương Khó

Tôi tin rằng đây là một bài thơ diễn tả những gì mà một người dân tin Chúa tại Giê-ru-sa-lem thời đó chứng kiến với cảm nghĩ xúc động

“Khi Đức Chúa Jêsus đang đi tới, có nhiều kẻ trải áo trên đường ... cả tiếng ngợi khen Đức Chúa Trời” (Lu-ca 19:36-37)

............................

“Cả dân chúng đi xem, thấy nông nổi làm vậy, đấm ngực mà trở về” (Lu-ca 23:48)

Tôi cùng đoàn chúng vào thành,Trên đường trải áo,trải cành cây tươi

Tiếng hoan hô giữa rừng người,Hô-sa-na Chúa Con Trời vinh quang

Một ngày đẹp một ngày vàng,Tôi nhìn lên Chúa lòng tràn niềm vui.

                                             ...

Tôi nhìn đoàn chúng lên đồi,Hô-sa-na đã xa rồi đã qua,

Hôm nay lên ngọn Gô-tha,Bước trên sỏi đá đường xa mỏi mòn,

Nắng trưa cảnh vật thật buồn,Tôi nhìn lên Chúa mà lòng quặn đau.

                                             ...

Tôi cùng đoàn chúng nghẹn ngào,Tiếng đinh tiếng búa đóng vào thịt xương,

Những dòng máu thắm tình thương,Trên cây thập tự trào tuôn vì người,

Rưng rưng trời đất ngậm ngùi,Tôi nhìn lên Chúa bùi ngùi lệ rơi.

                                    Tác giả : Thi sĩ Tường Lưu

                                    Một con cái Chúa cao niên tại Hoa Kỳ