Sống ở đất nước Úc này, hai tiếng “so-ri” và “thanh-kiu” chúng ta thường dùng hàng ngày mà chẳng cần chú ý đến đến thực chất của hai tiếng đó.

Tiếng Việt mình có hai tiếng : Tạ ơn và Cảm ơn. “Cảm ơn” dân ta thường dùng để nói lên “cảm nhận” biết ơn nào đó mình nhận được. Còn “Tạ ơn” chỉ dành cho những ơn thật lớn. Nhưng rồi chúng ta vẫn thường dùng một cách thản nhiên hai tiếng “Cảm ơn” và hai tiếng “Tạ ơn” với cùng một ý là biết ơn, “Tạ ơn Chúa” hay “Cảm ơn Chúa”.

Trong sinh hoạt hằng ngày, chúng ta dùng tiếng “cảm ơn” nhiều cách qua giọng nói và cách nói. Phần nhiều nói hai tiếng “cảm ơn” như một lời xã giao. Giận hờn thì tiếng “cảm ơn” nặng nề, mỉa mai thì tiếng “cảm ơn” đi sau tiếng “vậy sao” cao giọng,không vừa ý thì tiếng “cảm ơn” nhẹ hều, chê bai thì tiếng “cảm ơn” kéo dài với cái bĩu môi. Nghe được tiếng “cảm ơn” chân tình hơi hiếm đấy, nhưng nghe được thì đón nhận với cả niềm vui.

Người biết ơn bởi trực giác tức thời có thể không bền. Hai người ngồi trong quán cà phê. Anh A nói với anh B:

- Anh có biết, tôi có thể làm cho một người vừa mới cảm ơn tôi, liền chửi tôi sau đó. Và để chứng minh lời mình nói, hai người lìa quán cà phê. Anh A dúi vào tay người hành khất ngồi ngay trước cửa tiệm cà phê với lời nói:

- Cầm lấy, chút nữa vào uống cà phê. Người ăn xin gật đầu nói nhỏ cảm ơn với trực giác tức thời.

Hai người vừa cất bước thì người ăn xin chửi theo và ném hai gói đường nhỏ mà anh A vừa lấy trong tiệm dúi vào tay người ăn xin.

Chúng ta có thể biết kinh nghiệm này, làm ơn cho ai chín lần, lần nào cũng nhận được lời cảm tạ, nhưng đến lần thứ mười không gia ơn như người mong đợi là chín lần ơn trước tan đi như mây khói, không còn vương lại một chút nào trong tâm tư.

Người biết ơn bằng sự suy nghĩ bằng lý trí thường sâu đậm và bền bỉ. Nhớ lại năm 1954, đất nước chia đôi, một số người Bắc di cư vào Nam. Một người di cư vào Nam được người bạn cho mượn năm ngàn đồng để làm ăn buôn bán. Sau vài năm làm ăn khá giả, người được bạn cho mượn thường quà cáp đến người bạn ân tình. Trị giá số quà cáp đã vượt hơn số tiền năm ngàn đồng khá nhiều, người bạn ngạc nhiên hỏi:

- Anh cho tôi quà nhiều quá, mà số tiền năm ngàn đồng sao anh không trả cho tôi.

- Anh ơi, ân tình năm ngàn đó lớn lắm. Vì không trả nổi, nên nhớ ơn anh hoài. Xin anh cho phép tôi “nhớ ơn anh hoài”.

Sau năm 1975, một số người Việt ra hải ngoại với thân phận “tị nạn chính trị”, được người địa phương “bảo trợ, giúp đỡ”. Nhưng mấy ai còn nhớ đến người bảo trợ, hội đoàn bảo trợ, nói chi đến “nhớ ơn”.

Sau năm 1980, người Việt mình “bảo trợ” bà con, thân nhân. Nhưng mấy ai đã được bà con, thân nhân mà mình đã “bảo trợ” còn nhớ tới, nói chi đến được “nhớ ơn”. Chưa nói đến một số người sau một thời gian đã vượt hẳn người bảo trợ cả về tài chánh lẫn sự nghiệp thì chẳng “nhớ ơn” còn tỏ ra “vô ơn”.

Tại Hoa Kỳ biết bao “sô - show” mượn danh “Cảm ơn đời Cảm ơn người” chỉ cốt để thu tiền.

Đối với Cơ Đốc nhân, vấn đề “tạ ơn” nằm trong ý chỉ của Đức Chúa Trời. Kinh Thánh dạy: “Phàm làm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa; vì ý muốn của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ đối với anh em là như vậy” (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:18). “Phàm làm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa” thì không nương trên cảm xúc mà phải dụng tới niềm tin và lý trí.

Phần đông chúng ta chỉ “tạ ơn Chúa” khi bình an, thuận cảnh, may mắn. Làm sao chúng ta có thể “tạ ơn Chúa” trong nghịch cảnh, bất an, khốn khổ. Nhưng với niềm tin và lý trí chúng ta vẫn nức lòng “tạ ơn Chúa” trong mọi hoàn cảnh, trong mọi trạng huống.

Trong nghịch cảnh, bất an, khốn khổ chúng ta thường cầu xin Chúa giải cứu chúng ta ra khỏi nghịch cảnh, bất an, khốn khổ. Tôi tin rằng Ngài có 2 cách giải cứu:

1. Chúa cứu chúng ta thoát khỏi nghịch cảnh, bất an, khốn khổ. Cách này Chúa thường đối với “con đỏ trong Đấng Christ vậy” (I Cô-rinh-tô 3:1). Đời thuộc linh của “con đỏ” được kể là “con cái bé mọn” (I Giăng 2:12) đã chỉ mới “biết Đức Chúa Cha” (I Giăng 2:14). Được cứu cách này, chúng ta rất phấn khởi “tạ ơn” Chúa.

2. Chúa không cứu chúng ta thoát khỏi nghịch cảnh, bất an, khốn khổ, nhưng Ngài ban cho chúng ta lòng bình an, vui vẻ chịu đựng, mà còn thấy “lợi ích” trong nghịch cảnh, bất an, khốn khổ nên “khoe mình trong hoạn nạn nữa, vì biết rằng hoạn nạn sanh sự nhịn nhục, sự nhịn nhục sanh sự rèn tập, sự rèn tập sanh sự trông cậy. Vả, sự trông cậy không làm cho hổ thẹn, vì sự yêu thương của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh đã được ban cho chúng ta” (Rô-ma 5:3-5). Cách này Chúa thường đối với những Cơ Đốc nhân “hiểu biết Con Đức Chúa Trời, mà nên bậc thành nhân, được tầm thước vóc giạc trọn vẹn của Đấng Christ” (Ê-phê-sô 4:13).

Cơ Đốc nhân trưởng thành có thể “tạ ơn Chúa” như Thánh Phao-lô trong nghịch cảnh, bất an, khốn khổ: “Chúng tôi bị ép đủ cách (“tạ ơn Chúa”), nhưng không đến cùng; bị túng thế (“tạ ơn Chúa”) nhưng không ngã lòng; bị bắt bớ (“tạ ơn Chúa”), nhưng không đến bỏ; bị đánh đập (“tạ ơn Chúa”), nhưng không đến chết mất. Chúng tôi thường mang sự chết của Đức Chúa Jêsus trong thân thể mình (“tạ ơn Chúa”), hầu cho sự sống của Đức Chúa Jêsus cũng tỏ ra trong thân thể chúng tôi” (II Cô-rinh-tô 4:8-10).

Với đức tin và lý trí, chúng ta biết nghịch cảnh, bất an, khốn khổ chỉ là những “thử thách” Chúa ban cho chúng ta. Chúng ta được Kinh Thánh dạy: “Khi anh em bị trong lò lửa thử thách, chớ lấy làm lạ như mình gặp một việc khác thường. Nhưng anh em có phần trong sự thương khó của Đấng Christ bao nhiêu, thì hãy vui mừng bấy nhiêu, hầu cho đến ngày vinh hiển của Ngài hiện ra, thì anh em cũng được vui mừng nhảy nhót. Ví bằng anh em vì cớ danh Đấng Christ chịu sỉ nhục, thì anh em có phước; vì sự vinh hiển và Thánh Linh của Đức Chúa Trời đậu trên anh em” (I Phi-e-rơ 4:12-14).

Quý vị Mục sư chân chính của các Hội Thánh được “Đức Thánh Linh đã lập ... làm kẻ coi sóc, để chăn Hội thánh của Đức Chúa Trời” (Công-vụ các Sứ-đồ 20:28), mà “chịu cực khổ, làm việc của người giảng Tin Lành” (II Ti-mô-thê 4:5), thì thế nào cũng được “cảm tạ không thôi” (Ê-phê-sô 1:16), vì “vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu” (I Cô-rinh-tô 15:58).

Thưa quý anh chị con cái Chúa,

Chúng ta những Cơ Đốc nhân sống thế nào,để quý Mục Sư của chúng ta “Mỗi khi tôi nhớ đến anh em (chúng ta), thì cảm tạ Đức Chúa Trời tôi” (Phi-líp 1:3).

Chúng ta, những Cơ Đốc nhân: “Hãy thường thường nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, vì mọi sự tạ ơn Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta” (Ê-phê-sô 5:20), vì “biết rằng mọi sự (tốt cũng như xấu) hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời” (Rô-ma 8:28).

Cơ Đốc nhân chân chính và trưởng thành thì: “phàm làm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa; vì ý muốn của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ đối với anh em là như vậy” (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:18).

Vài lời tâm tình

Tôi, một con cái Chúa cao niên, đã được thờ phượng Chúa tại HT Chúa Kingsgrove cùng quý anh chị con cái Chúa tại đây hơn 20 năm qua. Thời gian gần đây, nhìn thấy Mục Sư quản nhiệm của chúng ta vất vả với công việc HT, sức khỏe đi xuống, tôi chỉ biết chắp tay cầu nguyện cho MS với sự cảm xúc tự đáy lòng, xin Chúa ban thêm sức cho ông để ông có thể hoàn tất trách nhiệm Ngài trao phó. Tôi tin rằng quý anh chị đồng ý với tôi gửi lời cảm tạ đến ông sau đây:

Mục sư quản nhiệm của Hội Thánh Kingsgrove được “Đức Thánh Linh đã lập ... làm kẻ coi sóc, để chăn Hội thánh của Đức Chúa Trời” (Công-vụ các Sứ-đồ 20:28), mà “chịu cực khổ, làm việc của người giảng Tin Lành” (II Ti-mô-thê 4:5), thì thế nào cũng được “cảm tạ không thôi” (Ê-phê-sô 1:16), vì “vì biết rằng công khó của MS trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu” (I Cô-rinh-tô 15:58). Cảm ơn MS.

Thơ Tin Lành

Tạ Ơn Chúa Việc Ngài Làm Kỳ Diệu

“Đức Giê-hô-va đã làm cho chúng tôi những việc lớn; Nhân đó chúng tôi vui mừng” (Thi-thiên 126:3).

“Ngài làm công việc lớn lao, không sao dò xét được, Làm những sự diệu kỳ, không thể đếm cho đặng;” (Gióp 5:9).

Tôi nhiều lúc tự hỏi: Lạ thật

Qua bao nhiêu nguy hiểm, vẫn còn đây

Tưởng rằng mình mất hút thế gian này

Nằm đâu đó ở một nơi quạnh quẽ.

                  Cũng đã biết bao lần đầy nỗi sợ

                  Sợ từng điều tưởng như núi, như rừng

                  Như tử thần cầm lưỡi hái lạnh lùng

                  Như biển động xô con thuyền vùi dập.

Không kể hết những lần nhìn trước mắt

Đã không còn lối thoát, đã cùng đường

Sức suy tàn, không chịu nổi, tôi buông

Rất thấm thía thế nào là ... tuyệt vọng.

                  Nay tôi vẫn còn đây, còn sống động

                  Còn an nhiên trong tay Chúa quan phòng

                  Tôi vui mừng ca ngợi Chúa hết lòng

                  Vì Chúa đã làm cho tôi việc lớn.

Những việc lớn Chúa làm là ... mầu nhiệm

Không một ai hiểu nổi việc Chúa làm

Chỉ cúi đầu kính cẩn thưa Chúa rằng:

Tạ ơn Chúa, việc Chúa làm kỳ diệu!

                                    Tác giả : Thi sĩ Tường Lưu

                                    Một con cái Chúa cao niên tại Hoa Kỳ