Ma-thi-ơ (Matthew) 5:1-10

Ðức Chúa Jêsus xem thấy đoàn dân đông, bèn lên núi kia; khi Ngài đã ngồi, thì các môn đồ đến gần. Ngài bèn mở miệng mà truyền dạy rằng:
Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!
Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được yên ủi!
Phước cho những kẻ nhu mì vì sẽ hưởng được đất!
 
Suy gẫm:
Nhu mì là một đặc tính khác của những người thuộc về vương quốc của Đức Chúa Trời. Trong tư tưởng triết học và đạo đức Hy-lạp, người nhu mì có ba đặc điểm sau đây: (a) tính tình trung dung. Người đó không quá nóng nảy hay giận dữ nhưng cũng không quá yếu mềm hay nhu nhược. Người nhu mì là người biết phản ứng cách phải lẽ với mọi tình huống của đời sống; (b) biết tự chủ lấy chính mình. Đây là từ được dùng cho thú vật được thuần hóa để con người có thể sử dụng. Người nhu mì là người biết tự chủ, đặt mình dưới kỷ luật và vâng phục thẩm quyền; và (c) tâm tình khiêm nhường chịu học hỏi hay dạy dỗ. Người có tâm tình nhu mì là người mong muốn học nơi người khác. Như thế trong trường hợp này đức nhu mì đi chung với đức khiêm nhường. Chính đức khiêm nhường trang bị cho chúng ta đức nhu mì.
Trong Cựu Ước, từ “nhu mì” đôi khi cũng được dịch là “khiêm nhường” hay “nghèo nàn,” đi chung với “thiếu thốn” (Ê-sai 26:6; Sô-phô-ni 3:12). Đặc điểm của người nghèo nàn đó là lòng nương tựa nơi Chúa (Sô-phô-ni 3:12), được Chúa dẫn dắt (Thi-thiên 25:9), được Chúa giải cứu trong lúc nguy nan (Thi 76:9), được Chúa lắng nghe lời cầu nguyện (Gióp 36:15). Môi-se được kể là người nhu mì hay hiền hòa nhất trong lịch sử dân Y-sơ-ra-ên và cả thế gian (Dân-số ký 12:3). Trong Tân Ước, nhu mì chính là đặc tính của thiên đàng vì chính Chúa Jesus tuyên bố Ngài là Đấng “nhu mì” và “khiêm nhường” (Ma-thi-ơ 11:29; 21:5). Ngoài ra, nhu mì cũng được kể là đức tính quan trọng của người vợ Cơ đốc bởi đó có thể chinh phục chồng chưa tin Chúa của mình (1 Phi-e-rơ 3:4).
Chúng ta thường hay vẽ ra trong tâm trí mình hình ảnh của một người nhu mì là người ăn nói nhỏ nhẹ, cư xử nhẹ nhàng, đi đứng chậm rãi, và thậm chí dường như không bao giờ nổi giận. Không biết từ đâu tạo nên trong chúng ta suy nghĩ như vậy. Có lẽ vì ảnh hưởng của ngôn ngữ mang tính trừu tượng. Tuy nhiên, nếu suy nghĩ như vậy thì ngay cả những gì các sách Phúc Âm mô tả về con người của Chúa Jesus rất khó cho chúng ta đặt chính Ngài trong khuôn mẫu của một con người nhu mì phải không? Thế thì người “nhu mì” mà Chúa Jesus muốn nói đến ở đây là gì? Muốn hiểu được điều Chúa Jesus nói, chúng ta cần tìm hiểu bối cảnh lời kêu gọi mà Ngài đưa ra ở đây: “Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta” (Ma-thi-ơ 11:29). Chúa Jesus đang lên án ách nặng nề của luật pháp do những nhà lãnh đạo Do-thái gáng trên con người, tạo nên sự mệt mỏi và sờn lòng (Ma-thi-ơ 11:1-19). Cố gắng vươn tới những gì luật pháp đòi hỏi, con người bị kẹt giữa sự xung đột của lòng kiêu căng và vô vọng. Con người chỉ muốn vật lộn với sự yếu đuối của chính mình và sự đòi hỏi nghiệt ngã của luật pháp. Càng vật lộn thì con người càng tuyệt vọng trong vũng bùn của bản ngã và sự lên án không thương xót của luật pháp. Đó là ách của luật pháp họ phải mang và chỉ dẫn họ đến chỗ hoàn toàn tuyệt vọng. Chúa Jesus xuất hiện và Ngài cung ứng cho con người giải pháp. Ách của Chúa chính là Tin Lành của ân sủng đối kháng lại với luật pháp. Sự đòi hỏi luật pháp là nặng nề. Tin Lành là sự ban cho của Chúa giải thoát con người ra khỏi ách luật pháp. Như thế, một người muốn đón nhận ân sủng của Chúa phải có lòng nhu mì muốn nương cậy nơi Đức Chúa Trời thay vì chính mình trong tất cả mọi. Người nhu mì là người tuyên bố cỡi bỏ ách tự mãn, nổ lực cá nhân, và giá trị đạo đức của chính mình để bước theo Chúa Jesus và chỉ nương tựa nơi ân sủng của Ngài để sống mỗi ngày. Giá trị của người đó không phải là chính họ mà là Chúa Jesus.
Phước cho những kẻ nhu mì vì sẽ hưởng được đất! Mối liên hệ giữa có lòng nhu mì và hưởng được đất ở đây là gì? Chúa Jesus trích từ trong Thi thiên 37:11 (bản LXX): “Song người hiền từ sẽ nhận được đất làm cơ nghiệp, và được khoái lạc về bình yên dư dật.” Vì thế, muốn hiểu được điều Chúa Jesus nói, chúng ta cần quay trở lại với bối cảnh của Thi-thiên 37. Trong Thi-thiên này, tác giả muốn so sánh cuộc đời và số phận giữa người công bình và kẻ gian ác. Khi nói đến việc thừa hưởng đất, người Do-thái liên tưởng đến ít nhất ba điều:
 
  • Được dự phần vào trong lời hứa về đất của Chúa ban cho Áp-ra-ham, nghĩa là được dự phần trong giao ước Ngài ban cho Áp-ra-ham và dòng dõi người.
  • Được hiện hữu trên đất tức là sự trường thọ. Hình ảnh trái ngược nhau trong Thi-thiên 37:10-11 cho thấy kẻ ác thì bị diệt vọng song người hiền từ (nhu mì) thì được sống lâu trên đất.
  • Được hưởng đất trong tương lai đời đời, tức là được bước vào trong vương quốc một ngàn năm bình an của Chúa. Trong tất cả lời hứa của Chúa ban cho Áp-ra-ham và dòng dõi người đều được ứng nghiệm chỉ trừ lời hứa về đất là chưa được ứng nghiệm trọn vẹn. Vì thế, đây chính là sự ứng nghiệm liên quan đến lời hứa về vương quốc thiên hy niên, chủ yếu dành cho dân Y-sơ-ra-ên.
Như vậy, vương quốc của Đức Chúa Trời chỉ dành sẵn cho những con người có lòng nhu mì và khiêm nhường, bằng lòng tuyên bố phá sản tận gốc rễ những gì mình cho rằng có giá trị trong đời này để bước theo Chúa Jesus. Đức Chúa Trời không thẹn kể người đó là người thuộc trong giao ước thánh, những kẻ được cứu chuộc. Chính Chúa bảo đảm sự sống của họ trong những ngày trần trên đất này, dẫn đưa họ vào trong nước ngàn năm bình an và cả cõi đời đời. Về phương diện con người, những con người có lòng nhu mì xem có vẻ như yếu đuối và hèn hạ. Về phương diện Đức Chúa Trời, những con người đó được kể là có phước. Sự tôn tặng của con người chỉ là tạm thời. Nhưng sự chúc phước của Đức Chúa Trời là đời đời không cùng vậy. Amen!