Xã hội loài người vẫn còn dành nhiều ưu đãi, kính trọng cho giới trí thức. Thời xa xưa kẻ sĩ vẫn được xếp hàng đầu trong tầng lớp xã hội Việt Nam : Sĩ, nông, công, thương, binh. Xã hội loài người đã dùng bằng cấp để đánh giá mức tri thức cao thấp của kẻ sĩ. Dần dần bằng cấp trở thành bằng chứng của trí thức, giá trị của trí thức, và tinh thần trọng bằng cấp, coi bằng cấp là những chân giá trị tri thức ở đời đã được chấp nhận tự nhiên.

Trên thực tế, bằng cấp rất cần thiết để bảo đảm trình độ học thức và khả năng hành sự tối thiểu cho các công việc liên quan đến sinh mạng con người của ngành y khoa, dược khoa, đến phẩm chất của sản phẩm trong ngành kỹ sư. Một sự lầm lẫn gây tai hại trong nghề nghiệp trong nghề nghiệp, thì bằng cấp cần để bào chữa lầm lỗi mình trước công lý. Những vị có bằng cấp thường dễ kiếm công việc với lương bổng cao, dễ được thăng ngạch trật, dễ có địa vị cao trong xã hội. Những người tài ba lỗi lạc trong các ngành y học, dược học, khoa học kỹ thuật đều có bằng cấp cao. Tuy nhiên trong giới văn chưong, biết bao danh tài không hề xuất thân từ những trường đại học hoặc có những bằng cấp cao. Văn hào Pháp Anatole France, Henry de Montherlant không có bằng tiến sĩ. Văn hào Shakespeare của Anh Quốc chỉ là một kép hát mà để lại cho hậu thế những vở kịch bất hủ. Ở Việt Nam ta ngày xưa có thi hào Nguyễn Du chỉ đỗ tú tài. Cụ Nguyễn Đình Chiểu chỉ là một cụ Đồ, cụ Đồ Chiểu. Thi nhân Nguyễn Khắc Hiếu chỉ là một ấm sinh, thi Hương hoài không đỗ. Những nhân vật trên trong giới văn chương, không có bằng cấp cao, nhưng chắc chắn có tri thức chuyên biệt.

Nhưng chân giá trị của tri thức là gì đây ? Phải chăng tri thức chỉ để phục vụ cho con người trí thức vụ danh, vụ lợi, cầu hư văn nhảm nhí mà chẳng hề nghĩ đến dùng tri thức mình có để phục vụ tha nhân ? Chắc chắn người trí thức biết dùng tri thức của mình để phục vụ tha nhân thì hữu ích cho xã hội, biết nhiều thì hữu dụng cho quốc gia, cho thiên hạ.

Tuy nhiên số người trí thức này quá ít oi. Ngày nay chúng ta thường gặp những người trí thức nhắm thật kỹ những chức vụ cao của chính quyền, của các công ty lớn, đặc biệt có tầm vóc quốc tế, với ước mong nhận được nhiều bổng lộc, và có thể nổi tiếng thế giới. Những vị này thường phải ngồi kiểm điểm lại lợi điểm của những bằng cấp mình có, so sánh bằng cấp của trường này cấp giá trị hơn trường kia để chứng tỏ tri thức có đẳng cấp. Những vị này chắc chẳng bao giờ hoặc không còn thời gian để đem cái học rộng, bằng cao để thi thố trong việc phục vụ cho nhân quần, xã hội. Vậy tri thức của họ có giá trị thực tiễn chăng ? Tổng thống Eisenhower đã tỏ ý nghi ngờ giới trí thức trong bài diễn văn đọc tại Los Angeles vào năm 1954 : “Trí thức là người dùng rất nhiều chữ để nói những điều mà họ biết rất ít”. Sự nghi ngờ này quả không nhầm lắm. Gẫm lại trong những ngày qua, tôi chưa tìm được một nhân vật trí thức nào quên mình phục vụ cho nhân quần xã hội. Trong cuốn tự điển triết học của Liên Bang Sô Viết ngày xưa gọi trí thức là thành phần không họp thành giai cấp và không tham gia vào hệ thống sản xuất trong xã hội. Có một thời Pháp cho rằng trí thức chỉ làm để phục vụ cho mình, là những người bất lực vì không đi lính và cũng không làm thợ được. Một số nguyên thủ, nghị sĩ quốc hội, bác sĩ, luật sư của các quốc gia tây phương còn bênh vực, đồng ý để phong trào đồng tính luyến ái được tự do phát triển, hôn nhân đồng tính được công nhận  bình đẳng như hôn nhân nam nữ mặc dầu họ là những người theo Chúa. Đối với những người trí thức quên nhân quần xã hội, đến lúc trẻ, đi lúc già, bị quên lãng lúc qua đời, họ chẳng để lại gì trên trần thế. Có nhiều người cho rằng những phát minh khoa học, y học cũng đã giúp nhân loại không ít, nhưng lại cũng có không ít người cho rằng đó là kết quả của việc kiếm lợi nhuận của các công ty. Ý nào đúng ý nào sai, xin nhường lại cho người đọc.

Cũng lại có nhận định cho rằng chất trí thức Đông Tây khác biệt nhau.

Ở các quốc gia tây phương, trí thức bắt nguồn bằng sự khao khát tự do và trưởng thành trong các cuộc tranh đấu vì tự do, nên nó có vẻ linh động, sống, sáng tạo. Nó như chất hóa học trong phòng thí nghiệm thông minh của con người. Nó được phân tích, tổng hợp, để biến thành sinh chất nuôi dưỡng xã hội con người.

Còn ở các nước đông phương, trí thức bắt nguồn bằng cung cách trên thờ vua, dưới cai trị dân. Nó được đóng khung trong lệ thuộc và khuất phục cho nên nó có tính chất cha truyền con nối. Một thứ trí thức nguyên chất, một chiều.

Dầu cho tính chất trí thức có khác giữa Đông và Tây, nhưng cả hai đều có chung đặc điểm : Thiếu thuần nhất, vị kỷ và đôi khi kiêu ngạo một cách bực mình.

Ngày xưa giai cấp quý tộc phong kiến đoàn kết với nhau để củng cố thế lực, bành trướng đất đai, thu chứa châu báu và kiềm chế giai cấp nông nô để phục vụ cho họ. Ngày nay giai cấp tư bản xiết chặt hàng ngũ để bảo vệ vị thế tư bản của mình. Giai cấp vô sản cũng đoàn kết bành trướng thế lực, nhất trí tranh đấu với giới tư bản hầu mong lật ngược vị thế chủ nhân ông, nâng cao phần lợi tức thu được qua sản xuất. Mỗi giai cấp đều biết mình muốn gì. Duy chỉ có giai cấp trí thức là khó có mục tiêu chung lâu dài, khó có mục tiêu rõ rệt. Khi phải đứng chung thành một khối để đấu tranh cho một mục đích, thì họ lừng khừng, rời rạc, không nhất trí. Đã vậy họ lại thường chống lại những giá trị cố định về tâm linh, và coi đó là giá trị ngăn chặn tiến hóa. Họ cố gắng đưa ra những ý tưởng được mệnh danh là ý tưởng tiến bộ. Ý tưởng của họ, tri thức của họ đôi khi đã trở thành thời trang, làm thay đổi cả quan niệm và sinh hoạt của cuộc sống. Kết quả ra sao ? Xin thưa cứ nhìn vào sự suy đồi của đạo đức, các tội ác trong xã hội văn minh hiện tại này chứng tỏ điều đó. Tiến hay lùi ? Văn minh hướng thượng hay văn minh hướng hạ ?

Thưa quý anh chị con cái Chúa,

Cho phép tôi tin rằng con cái Chúa chúng ta, nếu là những nhà trí thức, đều có một ước mong và cố gắng hoàn thành là đóng góp được một công trình nào đó có ích cho nhân quần xã hội. Chúng ta con cái Chúa đều biết có một vị vua khôn ngoan trong Kinh Thánh, đó là vua Sô-lô-môn. Chính vị vua khôn ngoan này cho chúng ta biết khởi điểm của tri thức : “Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là khởi đầu sự tri thức” (Châm-ngôn 1:7). Với sự nhận thức này, vua Sô-lô-môn khôn ngoan đã được Nữ Vương nước Sê-ba đến thăm và ca tụng rằng : “Điều tôi nghe nói trong xứ tôi về lời nói và sự khôn ngoan của vua, thì thật lắm. Song trước khi tôi chưa đến đây, và chưa thấy tận mắt những điều này, thì tôi chẳng tin; và kìa, người ta chẳng nói đến được phân nửa! Sự khôn ngoan và oai nghi của vua trổi hơn tiếng đồn tôi đã nghe” (I Các Vua 10:6-7). Với tâm tình kính sợ Đức Giê-hô-va, chúng ta sẽ : “hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời …… yêu kẻ lân cận như mình.” (Ma-thi-ơ 22:37-39). Cho phép tôi tin rằng với tấm lòng “yêu kẻ lân cận như mình”, chúng ta có thể sẵn sàng dùng tri thức để phục vụ người chung quanh, phục vụ xã hội.

Vài lời tâm tình

Đạo Chúa có những điều răn dạy không thay đổi theo thời gian và không gian. Những điều răn dạy này đang bị người trần thế chối bỏ, làm ngược lại. Các quốc gia được mệnh danh văn minh và tân tiến nhất thế giới như Hoa Kỳ, Anh Quốc, Pháp Quốc, Hòa Lan v.v., đã công nhận hôn nhân đồng tính, bình đẳng với hôn nhân nam nữ. Gần đây tại Ái Nhĩ Lan (Ireland) mà dân số 80% là người Công Giáo, 15% Tin Lành, đã có kết quả của một cuộc trưng cầu dân ý cho thấy 64% tán thành hôn nhân đồng tính như hôn nhân nam nữ. Và tại Australia, cho đến gần đây, chỉ có đảng Dân Chủ (Liberal Party) chống lại chuyện này. Nhưng sau cuộc trưng cầu dân ý tại Ái Nhĩ Lan, nội bộ đảng này cũng đang bắt đầu lung lay. Con cái Chúa chúng ta chỉ biết phải đứng vững trong đường lối Chúa, thẳng thắn tránh xa điều không làm đẹp lòng Chúa. Và đó là điều duy nhất mà chúng ta có thể làm được.

Tại Hoa Kỳ, một thanh niên da trắng 21 tuổi đã vào nhà thờ Tin Lành của người da đen, bắn chết 9 người Cơ Đốc trong đó có hai vị Mục Sư. Buồn thay. Nguyện xin Chúa là Đấng An Ủi, Đấng Chữa Lành hàn gắn vết thương trong lòng những con cái Chúa thân nhân của người quá cố.