Văn hóa được định nghĩa là một tổng hợp của sự hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, luân lý, luật pháp, phong tục tập quán và tất cả những khả năng của con người thâu thập được như một phần tử trong xã hội

Nhà hiền triết cổ điển tây phương Aristote gọi con người là “động vật có xã hội tính”, Pascal coi con người là “cây sậy có tư tưởng”.

Xã hội tính cộng với tư tưởng, nhân loại đã và đang tiến, chỉ vì con người có ý tưởng luôn luôn muốn làm cho xã hội mỗi ngày một tốt đẹp hơn, tươi sáng hơn. Tiến trình đó người ta gọi là văn hóa. Văn hóa được định nghĩa là một tổng hợp của sự hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, luân lý, luật pháp, phong tục tập quán và tất cả những khả năng của con người thâu thập được như một phần tử trong xã hội.

Triết gia Pháp Léon Brunschwig định nghĩa : văn hóa lấy nghĩa đen mà nói, ấy là những cái gì bồi bổ vào bản tính tự nhiên để nâng loài người lên trên trình độ của cầm thú, ấy là sự tinh tế trong phong tục, sự thanh cao trong tính tình, lòng hiếu mỹ và trí thẩm mỹ, tóm lại là hết thảy những cái gì có lẽ không làm cho bản tính vị kỷ của chúng ta giảm đi, mà chỉ muốn làm cho sự sinh hoạt thêm phần hứng thú, mục đích đem lại trong giao tế xã hội cái hứng thú độc nhất cho con người sống tại đó.

Hội Văn Hóa Quốc Tế (UNESCO) định nghĩa rằng: Văn hóa là phần não tủy của đoàn thể được điều tra, phần não tủy này được biểu lộ trong cái tinh hoa của những cống hiến của một người hay một tập thể về sự hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, luân lý, luật pháp, phong tục tập quán và tất cả những khả năng của con người thâu thập được như một phần tử trong xã hội, của những kỳ vọng của “con đường sống lý tưởng” của nó.

Văn hóa trong tiếng Pháp và tiếng Anh đều dùng chữ “culture”, nghĩa đen là trồng trọt, là vun sới cho cây đâm hoa, kết quả mỹ mãn, là xây dựng đời sống con người cho lịch sự và hiểu biết.

Bởi sự chi phối của văn hóa mà người ta cảm thấy thích hợp, thoải mái với xã hội, chế độ này, hoặc hoài nghi, khó chịu với xã hội, chế độ kia. Người Việt mình tự hào với gần năm ngàn năm văn hóa và cảm thấy khó hội nhập với nền văn hóa mới hơn hai trăm năm của Hoa Kỳ. Sự cách biệt không phải tuổi tác văn hóa, mà có lẽ bởi sự cách biệt văn hóa Đông và Tây.

Văn hóa tây phương là văn hóa duy vật, thiên trọng về lý trí khoa học thực nghiệm, là đặc tính của xã hội nặng về kỹ nghệ.

Văn hóa đông phương là văn hóa duy tâm, giầu tình cảm và tưởng tượng, hòa với thiên nhiên, là đặc tính của xã hội nặng về nông nghiệp.

Văn sĩ tây phương Anh Quốc Rudyard Kipling đã nói : Đông là Đông, Tây là Tây. Hai bên không thể gặp nhau được.

Thi sĩ đông phương Ấn Độ R. Tagore đã trả lời : Người là người, máy là máy. Không bao giờ người với máy có thể gặp nhau được.

Nhưng đã có một văn hào, mà người viết không còn nhớ tên, đã nói để dung hòa : Dân tộc trên thế giới gặp nhau ở những chỗ cao nhất và ở những chỗ thấp nhất … chỉ khác nhau ở khoảng giữa.

Chỗ thấp nhất trong con người, cả Đông lẫn Tây đều ý thức về bản chất tội lỗi trong con người. Chỗ cao trọng nhất trong con người cả đông lẫn tây đều có ý thức về chân, thiện, mỹ.

Văn hóa Việt Nam, môt nền văn hóa phản ảnh tình cảm của một dân tộc quá nhiều đau thương, một nền văn hóa tiếp nhận tư tưởng bốn phương mà vẫn duy trì được bản sắc riêng biệt của mình.

Văn hóa Việt Nam là văn hóa đem lòng dân tộc hòa với thiên nhiên. Hạnh phúc, lý tưởng không phải là ôm đồm quyền thế, vơ vét tài sản vật chất cho mục đích vị kỷ, mà nặng về tình cảm, giầu tưởng tượng nhưng không phải là mơ mộng, mong muốn hòa đồng với hoàn cảnh thiên nhiên, lấy đó làm mục tiêu đi tìm hạnh phúc.

Để diễn tả lý tưởng, người Việt Nam lấy vũ trụ làm cứu cánh, lấy sự hòa đồng với thiên nhiên làm hạnh phúc, chứ không lấy chinh phục thiên nhiên làm mục đích. Từ những thơ của nhà thi hào Nguyễn Công Trứ :

Ở đời muôn sự của chung,            Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi

Hay

Của đồng lần thiên hạ tiêu chung Hơn nhau hai chữ anh hùng

Anh hùng là lý tưởng hành động để phụng sự một lý tưởng cao cả, để thực hiện một mục đích làm người từng trải, thoát ra ngoài cá nhân chật hẹp, thấp kém, thoát ra ngoài xã hội gò bó tuy thiết yếu, để phối hợp hòa đồng với vũ trụ thiên nhiên.

Cái lý tưởng cao cả ấy chúng ta tìm thấy một sự phù hợp trong Cơ Đốc giáo với dân tộc tính trong bình diện văn hóa. Lòng chúng ta mong đạt đến sự hòa đồng thông cảm với vũ trụ. Chúa Jêsus, Đấng Cứu Thế đã đến thế gian với mục đích đem chúng ta đến chỗ là con cái Đức Chúa Trời, hòa đồng với Ngài : “hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài” (Giăng 1:12), là Đấng Tạo Hóa, và con cái Chúa cũng dễ hòa đồng với thiên nhiên, hòa đồng với tạo vật trên bước đường theo Ngài vì Ngài là Đấng đã dựng nên vũ trụ, vạn vật trong đó có thiên nhiên : “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất.” (Sáng-thế-ký 1:1). Sự hòa đồng đó là sự hòa đồng trong tình Phụ Tử sung mãn, chan chứa “đủ mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời” (Ê-phê-sô 1:3), mà Thiên Phụ từ ái sẵn sàng ban cho mọi con cái Chúa qua niềm tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ.

Tôi hãnh diện với nền văn hóa Việt Nam, mãi mãi là quê hương tôi. Nền văn hóa đó đã đưa người Việt Nam đến chỗ hòa đồng với thiên nhiên.

Tôi mãn nguyện với Cơ Đốc Giáo, qua Đức Chúa Jêsus tôi được làm con Thiên Chúa, hòa đồng với Ngài, và với thiên nhiên Ngài tạo dựng.

Thưa quý vị chưa phải là con cái Chúa,

Tôi không biết viết gì hơn nữa để quý vị thông cảm  được điều mãn nguyện trong tâm tôi. Ước mong quý vị tin nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa của mình để thực nghiệm điều mãn nguyện đó.