Vào tháng 4, chúng ta có lễ Phục Sinh, ghi nhớ việc Chúa Jêsus từ kẻ chết sống lại. Sau khi Chúa Jêsus chịu đóng đinh trên thập tự giá, Ngài “chết” và được một người giầu có “tên là Giô-sép, Ở thành A-ri-ma-thê, là nghị viên tòa công luận có danh vọng, cũng trông đợi nước Đức Chúa Trời. Người bạo gan đến Phi-lát mà xin xác Đức Chúa Jêsus” (Mác 15:43), và đem thân xác Chúa Jêsus chôn nơi mộ của ông. Điều này ứng nghiệm lời tiên tri Ê-sai “Người được chôn với kẻ giàu” (Ê-sai 53:9).

Thân xác Chúa Jêsus được chôn trong mồ vào ngày thứ sáu. Ngài được an nghỉ trong ngày thứ Bảy, ngày Sa-bát. Qua ngày thứ nhất trong tuần lễ, Ngài đã đắc thắng sự chết, sống lại cách vinh hiển, ra mộ cách khải hoàn. Kể từ ngày đầu tuần lễ đó, người Việt chúng ta gọi là Ngày Chúa Nhật - ngày của Chúa. Các dân tộc khác không gọi đó là ngày Chúa Nhật nhưng luôn kể ngày đó là ngày Chúa sống lại, và Cơ Đốc nhân trên toàn thế giới đều dùng ngày Chúa Nhật để Thờ Phượng Chúa.

Chúa Jêsus đã nói cho các môn đồ Ngài biết về sự sống lại của Ngài. Lời Kinh Thánh ghi : “Từ đó, Đức Chúa Jêsus mới tỏ cho môn đồ biết rằng mình phải đi đến thành Giê-ru-sa-lem, phải chịu tại đó nhiều sự khốn khổ bởi những người trưởng lão, thầy tế lễ cả, cùng thầy thông giáo, và phải bị giết, đến ngày thứ ba phải sống lại” (Ma-thi-ơ 16:21). Sự “sống lại” của Chúa được loan truyền trong dân chúng, nên khi Chúa Jêsus chết, được chôn trong mồ, các nhà tôn giáo đến cùng Phi-lát mà thưa rằng : “Thưa Chúa, chúng tôi nhớ người gian dối nầy, khi còn sống, có nói rằng: Khỏi ba ngày thì ta sẽ sống lại. Vậy, xin hãy cắt người canh mả cẩn thận cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đồ nó đến lấy trộm xác đi, rồi nói với chúng rằng: Ngài đã từ kẻ chết sống lại. Sự gian dối sau đó sẽ tệ hơn sự gian dối trước. Phi-lát nói với họ rằng: Các ngươi có lính canh; hãy đi canh giữ theo ý các ngươi. Vậy, họ đi, niêm phong mả Ngài lại, cắt lính canh giữ, lấy làm chắc chắn lắm” (Ma-thi-ơ 27:63-66).

Ngày Chúa Nhật, các lính canh chứng kiến : “đất rúng động dữ dội, vì có thiên sứ của Chúa ở trên trời xuống, đến lăn hòn đá ra mà ngồi ở trên…mấy tên lính canh vào thành thuật lại cho các thầy tế lễ cả biết mọi việc đã xảy đến. Các thầy bèn nhóm lại cùng các trưởng lão đặng bàn luận, xong rồi, thì họ cho những lính đó nhiều tiền bạc, mà dặn rằng: Các ngươi hãy nói rằng: Môn đồ nó đã đến lúc ban đêm, khi chúng tôi đang ngủ, mà lấy trộm nó đi. Nếu điều ấy thấu tai quan tổng đốc, thì chúng ta sẽ khuyên giải người, và làm cho các ngươi khỏi lo sợ. Mấy tên lính đó lấy bạc, và làm theo như lời. Tiếng ấy đã đồn ra trong dân Giu-đa cho đến ngày nay” (Ma-thi-ơ 28:2, 11-15).

Sự phục sinh của Chúa Jêsus bị phủ nhận ngay từ ngày đó. Nếu Chúa Jêsus không sống lại, thì cuộc đời Chúa Jêsus cũng thường như bao vị “thần thánh” của các tôn giáo khác. Cho nên, chẳng lạ gì, trải qua gần 2000 năm, sự thật Chúa Jêsus “sống lại” đã bị đả phá, công kích bằng mọi hình thức, thì sự kiện Đức Chúa Jêsus từ cõi chết sống lại vẫn là một sự kiện bất biến.

Frank Morrison, một luật gia người Anh, quyết định sẽ cho thế giới biết rằng : Sự Phục Sinh của Chúa Jêsus chỉ là một sự bịp bợm. Là một luật gia, ông tin rằng có khả năng phê bình sắc bén để gạn lọc các bằng chứng hiển nhiên, và không chấp nhận một bằng chứng hiển nhiên nếu nó không thỏa mãn các tiêu chuẩn gạn lọc mà một tòa án ngày nay có thể chấp nhận. Thế mà tội nghiệp cho ông, càng cố tra cứu, khảo sát, ông càng bị thuyết phục trái với ý định mong muốn từ lúc ban đầu. Và cuối cùng ông đã viết một cuốn sách với nhan đề : “Who Moved The Stoned – Ai đã lăn hòn đá” để xác nhận đức tin trong sự Phục Sinh của Đức Chúa Jêsus khoảng 100 năm trước đây.

Học giả tăm tiếng của Cambridge nhiều năm trước là Camon Westcott đã tuyên bố : Lẽ tất nhiên là sau khi thu thập tất cả bằng cớ hiển nhiên lại với nhau rồi, nếu bảo rằng : Không có một biến cố lịch sử nào đã được hậu thuẫn hơn bởi rất nhiều cách khác nhau cho bằng sự Phục Sinh của Đấng Christ, thì không phải là quá đáng.

Sự sống lại của Đức Chúa Jêsus Christ là nền tảng cho sự cứu rỗi, là trung tâm nhân sinh quan của Cơ Đốc nhân, là bằng chứng cụ thể cho hi vọng trong đời sau. Đó là tính đặc trưng độc nhất siêu việt của Cơ Đốc giáo. Bằng không Cơ Đốc giáo cũng giống như các tôn giáo khác, chỉ có “giáo” - dạy, chứ không thể “cứu” người. Kinh Thánh chép lại Lời Chúa Jêsus phán : “Ta đến… để cứu chuộc” (Giăng 12:47).

Sự chết và sự sống lại của Chúa Jêsus liên kết với nhau trong niềm tin của Cơ Đốc nhân. Thập tự giá không có hình tượng của Chúa Jêsus chịu đóng đinh biểu tượng cho sự chết và sự sống lại của Ngài. Điêu khắc gia Đan Mạch Thorvaldsen đã phô diễn sự chết và sự sống lại của Chúa Jêsus bằng một tác phẩm điêu khắc trên đá trắng, hình một cây thập tự khô lạnh, nơi gốc cây thập tự mọc lên một cây nho, dây nho vươn mình quấn vào cây thập tự, với lá nho xanh ngắt, với những chùm nho bóng hồng đậm biểu hiệu sự sống dư dật và đẹp đẽ.

Chúa Jêsus đã nói trước về sự phục sinh của Ngài như sau : “Hãy phá đền thờ nầy đi, trong ba ngày ta sẽ dựng lại” (Giăng 2:15), “đền thờ” là thân xác Ngài bị “phá…đi” - chết hoàn toàn, “ta sẽ dựng lại” - không có nghĩa khôi phục lại những gì bị “phá…đi”, giống như chúng ta thường thấy trên truyền hình quay ngược lại ngôi nhà bị phá vỡ trở lại như cũ. Sự Phục Sinh của Chúa Jêsus là “dựng lại” một cách hoàn toàn mới với hình thức cũ.

Đức Chúa Jêsus Phục Sinh do chính năng lực của Ngài như Lời Ngài phán : “ Ta có quyền phó sự sống, và có quyền lấy lại” (Giăng 10:18). Nhưng Đức Chúa Trời cũng dự phần trong việc này, “Nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Người sống lại, bứt đứt dây trói của sự chết, vì nó không thể giữ Người lại dưới quyền nó” (Công-vụ các Sứ-đồ 2:24). Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa “khiến Người sống lại” với một thể chất khác. Đức Chúa Thánh Linh cũng dự phần trong sự Phục Sinh của Đức Chúa Jêsus, “Lại nếu Thánh Linh của Đấng làm cho Đức Chúa Jêsus sống lại từ trong kẻ chết ở trong anh em, thì Đấng làm cho Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết cũng sẽ nhờ Thánh Linh Ngài ở trong anh em mà khiến thân thể hay chết của anh em lại sống” (Rô-ma 8:11). Bởi Đức Thánh Linh mà anh em có năng lực trong hình thể cũ và thể chất mới.

Thưa quý anh chị con cái Chúa,

Sự Phục Sinh của Chúa Jêsus rất quan trọng trong niềm tin của Cơ Đốc nhân. Phao-lô quả quyết : “Nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại, thì đức tin anh em cũng vô ích, anh em còn ở trong tội lỗi mình” (I Cô-rinh-tô 15:17). Sự chết và sự sống lại của Chúa Jêsus kết hợp lại thành sự cứu rỗi trọn vẹn cho bất cứ ai tin nhận Ngài làm Cứu Chúa của mình. Sự Phục Sinh của Đấng Christ cũng tạo nên một kiểu mẫu mới cho người thuộc về Ngài, sống và hầu việc Ngài. Bởi sự Phục Sinh của Ngài mà chúng ta nhận được : 1. Sự sống đời đời. 2. Năng quyền. 3. Hiệp một với Đấng Christ.

1. Được sự sống đời đời. Câu Kinh Thánh mà hầu hết Cơ Đốc nghiêm túc đều thuộc lòng là : “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời” (Giăng 3:16). Nền tảng “sự sống đời đời” là sự Phục Sinh của Chúa Jêsus, là sự sống bản thể của Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus phán rằng : “Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi” (Giăng 11:25). Phao-lô nhấn mạnh người được cứu rỗi là người nhận được “sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta” (Rô-ma 6:23). Nên Cơ Đốc nhân chân chính luôn cảm nhận : “Đấng Christ là sự sống của tôi” (Phi-líp 1:12).

2. Được năng quyền. Phao-lô mong muốn tất cả Cơ Đốc nhân đều “ biết quyền vô hạn của Ngài, đối với chúng ta có lòng tin, là lớn dường nào, y theo phép tối thượng của năng lực mình, mà Ngài đã tỏ ra trong Đấng Christ, khi khiến Đấng Christ từ kẻ chết sống lại”(Ê-phê-sô 1:19-20). Nếu con cái Chúa “biết quyền vô hạn” của Chúa Jêsus mà Ngài đã ban cho con cái Ngài ngay trong “sự sống đời đời”, thì chúng ta đã áp dụng “quyền vô hạn” này mà Phao-lô và nhiều con cái Chúa, trong có người đang chia sẻ niềm tin cùng quý độc giả, tự hào : “Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi” (Phi-líp 4:13). Cũng bởi “quyền vô hạn” này mà “anh em ở giữa dòng dõi hung ác ngang nghịch, được nên con cái của Đức Chúa Trời, không vít, không tì, không chỗ trách được, lại giữa dòng dõi đó, giữ lấy đạo sự sống, chiếu sáng như đuốc trong thế gian” (Phi-líp 2:15).

3. Được hiệp một với Đấng Christ Phục Sinh.

Đấng Christ Phục Sinh, nên Ngài sống trong Cơ Đốc nhân qua Đức Thánh Linh, “Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi” (Ga-la-ti 2:20). Chúa Jêsus đang sống trong mỗi Cơ Đốc nhân để làm “Ý Cha được nên, ở đất như trời” (Ma-thi-ơ 6:10).

Tất cả Cơ Đốc nhân chân đều hiệp một với Đấng Christ, nhưng không phải tất cả Cơ Đốc nhân đều “đồng sinh động với Ngài”. Muốn “đồng sinh động với Ngài”, chúng ta “hãy tôn Đấng Christ, là Chúa, làm thánh trong lòng mình” (I Phi-e-rơ 3:15), và quyết định : “Đấng Christ là mọi sự và trong mọi sự. Vậy anh em là kẻ chọn lựa của Đức Chúa Trời, là người thánh và rất yêu dấu của Ngài, hãy có lòng thương xót. Hãy mặc lấy sự nhân từ, khiêm nhường, mềm mại, nhịn nhục, nếu một người trong anh em có sự gì phàn nàn với kẻ khác thì hãy nhường nhịn nhau và tha thứ nhau: như Chúa đã tha thứ anh em thể nào, thì anh em cũng phải tha thứ thể ấy. Nhưng trên hết mọi sự đó, phải mặc lấy lòng yêu thương, vì là dây liên lạc của sự trọn lành. Nguyền xin sự bình an của Đấng Christ cai trị trong lòng anh em, là bình an mà anh em đã được gọi đến đặng hiệp nên một thể; lại phải biết ơn. Nguyền xin lời của Đấng Christ ở đầy trong lòng anh em, và anh em dư dật mọi sự khôn ngoan. Hãy dùng những ca vịnh, thơ thánh, bài hát thiêng liêng mà dạy và khuyên nhau, vì được đầy ơn Ngài nên hãy hết lòng hát khen Đức Chúa Trời. Mặc dầu anh em nói hãy làm, cũng phải nhân danh Đức Chúa Jêsus mà làm mọi điều, nhờ Ngài mà tạ ơn Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha” (Cô-lô-se 3:11-17).

Chúa Jêsus Phục Sinh, sự mầu nhiệm về sự Phục Sinh là năng lực để tất cả Cơ Đốc nhân hiệp một trong Chúa, và đồng sinh động với nhau, với Chúa, bởi sự Phục Sinh của Ngài trong chúng ta.